Vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất; xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hoá. Các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta diễn ra đa dạng, sôi nổi: phong trào có khuynh hướng dân chủ tư sản Đông Du, Đông kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội; phong trào chống sưu thuế của nông dân ở Trung kỳ; phong trào đánh Pháp: vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế, v.v. Tuy nhiên, các phong trào yêu nước chống Pháp trên đều thất bại. Nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học và sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước.

Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”; chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến”. Chính vì thế, ở Việt Nam lúc này không thể cứu nước trên lập trường phong kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đòi hỏi được đổi mới, đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ.

Sinh ra là lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, một địa phương có truyền thống yêu nước, lúc còn nhỏ, Nguyễn Tất Thành sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, hấp thụ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc, Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hoá phương Tây. Chứng kiến cảnh khổ cực của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của thế hệ đi trước, Người càng yêu nước, thương dân tộc mình sâu sắc và hun đúc những hoài bão lớn lao. Vốn có tư chất thông minh, tinh thần ham học hỏi, khả năng tư duy độc lập, tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới, Người bị lôi cuốn bởi khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” và thôi thúc bởi ý định tìm hiểu “cái gì ẩn giấu sau” những từ đẹp đẽ đó ở chính nước sinh ra khẩu hiệu đó. Đó chính là những lý do Nguyễn Tất Thành quyết định chọn nước Pháp, chọn châu Âu làm điểm đến đầu tiên trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước năm 1911.

Hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành khi ra nước ngoài là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”. Gần mười năm, vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ,… Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng là: cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi; nó xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến, nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Từ những hoạt động thực tiễn trên và sau khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo L’Humanité tháng 7/1920 đã giải đáp cho Người những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc, … đã đưa Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin.

con duong cuu nuoc cua bac
Nguồn: vhttcs.org.vn

Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, về chính quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng,… ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12/1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người; đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị: từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản.

Cùng với tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, đầu năm 1924, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam; khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân; xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam; phát triển lực lượng cách mạng, v.v. Việc Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chứng tỏ ngay từ năm 1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản. Sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, ngày 28/01/1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng là bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam: chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu tiến hoá chung của nhân loại và xu thế của thời đại - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Xuất phát từ lòng yêu nước ra đi tìm đường cứu nước, trên con đường đầy gian truân, thử thách, Hồ Chí Minh đã đi khắp các châu lục, khảo sát nhiều nước thuộc địa và các nước tư bản phát triển Mỹ, Anh, Pháp, v.v. Người thấy rằng: cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ là cách mạng tư sản, cách mạng không đến nơi, không giải phóng những người lao động mà lại đi áp bức các dân tộc khác. Cách mạng Việt Nam không thể đi theo con đường đó và chỉ có Cách mạng Tháng Mười Nga mới thành công đến nơi, mang lại tự do, bình đẳng thật sự cho người dân lao động và giúp đỡ giải phóng các dân tộc thuộc địa. Từ đó, Người đi đến kết luận: Cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga - con đường cách mạng vô sản. Con đường đó được Người khẳng định rõ ràng trong những văn kiện thông qua tại Hội nghị hợp nhất ngày 03/02/1930 “làm tư sản dân quyền cách mệnh và thổ địa cách mệnh để đi tới xã hội cộng sản”. Sự xác định trên đây của Hồ Chí Minh là một sáng tạo lớn về con đường cách mạng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến - con đường giải phóng dân tộc một cách triệt để: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là kết quả tất yếu quá trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh; sự lựa chọn duy nhất đúng, phù hợp với đòi hỏi và nguyện vọng chính đáng của dân tộc Việt Nam, xu thế phát triển của thời đại.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một tất yếu khách quan, luôn được Đảng ta vận dụng đúng đắn, sáng tạo, trở thành phương châm hành động qua từng giai đoạn cách mạng, trở thành ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam liên tục giành những thắng lợi lịch sử suốt hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tại Đại hội XI của Đảng (2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay1”.

Từ ngày Bác ra đi tìm đường cứu nước đã 110 năm và 80 năm Bác về nước lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, mặc dù thời cuộc đã có những thay đổi sâu sắc, chủ nghĩa xã hội đã lâm vào thoái trào, song tư tưởng của Người về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vẫn còn nguyên giá trị chỉ đạo thực tiễn. Đặc biệt, trước tình hình thế giới, khu vực hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song diễn biến thay đổi hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo; các mâu thuẫn cơ bản của thời đại tiếp tục tồn tại và phát triển. Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm. Các nước lớn vừa hợp tác, vừa thỏa hiệp, vừa đấu tranh kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối vào nội bộ các nước khác. Các yếu tố an ninh phi truyền thống vẫn tiếp diễn phức tạp; xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh mới, làm thay đổi môi trường chiến lược, tác động sâu sắc tới mọi quốc gia, dân tộc. Ở trong nước, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được củng cố, nâng cao. Tuy nhiên, đất nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là khi hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hơn. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tăng cường hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, với âm mưu, thủ đoạn ngày càng công khai, trực diện hơn, v.v. Tất cả những điều đó, chi phối không nhỏ đến sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, làm cho việc giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đứng trước những khó khăn, thử thách. Bởi vậy, việc tiếp tục quán triệt, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu, lý tưởng cách mạng trong tình hình hiện nay là yêu cầu khách quan, dù trong tình huống nào cũng phải giữ vững. 

Trước hết, phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thành công, đảm bảo cho con thuyền cách mạng Việt Nam đi đúng hướng, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của dân tộc, nhân dân Việt Nam và xu hướng của thời đại. Trong tình hình hiện nay, để giữ vững vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng phải luôn tự đổi mới, chỉnh đốn, xây dựng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; thường xuyên trau dồi tư duy, bản lĩnh, trí tuệ; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào tình hình thực tiễn của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để đề ra cương lĩnh, chủ trương, biện pháp lãnh đạo đất nước cho phù hợp với quy luật khách quan và nhu cầu của đời sống xã hội. Đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng thực sự “vừa hồng”, “vừa chuyên”, là “công bộc” của dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, có ý chí, khát vọng vươn lên hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Đảng phải thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền đối với Nhà nước và xã hội, bám sát thực tiễn, nắm tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, làm trong sạch bộ máy Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.    

Hai là, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong tiến trình đổi mới. Sự nghiệp đổi mới của đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã mang lại thành tựu hết sức quan trọng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã khẳng định tính ưu việt của nó, đó là phát triển kinh tế đi đôi với bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội, vị thế đất nước được nâng cao trên trường quốc tế, v.v. Nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong tiến trình đổi mới, hội nhập, cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn: giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, v.v. Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta, cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với sự thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi phải được nhận thức đúng, đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, hiệu quả. 

Ba là, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Một trong những trọng tâm phát triển đất nước mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Giữ vững độc lập, tự chủ; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh;... kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”2. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh. Đây là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Xây dựng, phát triển đất nước tốt sẽ có điều kiện tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, khu vực phòng thủ vững chắc để sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống; ngược lại, có nền quốc phòng vững chắc, sẽ tạo môi trường ổn định để thực hiện các chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, khơi dậy mọi tiềm năng, lợi thế của đất nước trong quá trình hội nhập và phát triển.

Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cần tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, từ năm 2030, phấn đấu xây dựng Quân đội hiện đại; xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc làm nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có sức chiến đấu cao.

Bốn là, tích cực đấu tranh chống lại quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, về độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội nói riêng. Để chống phá cách mạng Việt Nam, một trong những thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch là ra sức xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng dẫu tìm mọi cách, lúc trắng trợn, lúc tinh vi, chúng nhất định không lừa dối được nhân dân Việt Nam và những người có lương tri trên toàn thế giới. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam và cách mạng Việt Nam.

Đã có rất nhiều chiến dịch quy mô quốc tế, dưới nhiều phương thức khác nhau, nhằm bôi đen, xuyên tạc, vu khống các vị lãnh tụ cách mạng Việt Nam, nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng cho rằng, Hồ Chí Minh thực chất chỉ là người “dân tộc chủ nghĩa”; tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Người là “phi nhân tính”, v.v. Từ đó, chúng suy luận: “Nhân dân Việt Nam đi theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh là sai lầm, là đi vào ngõ cụt”, v.v. Thực hiện những thủ đoạn trên, chúng thường sử dụng phương pháp viết truyện, hồi ký, viết báo, mở “diễn đàn”,… thông qua blog cá nhân, nhất là các trang mạng của các tổ chức phản động ở nước ngoài để kích động, nói xấu, phủ nhận tư tưởng, con người Hồ Chí Minh đi liền với phủ nhận con đường cách mạng Việt Nam. Thực ra, tác dụng của sự xuyên tạc từ những kẻ cơ hội, bất mãn này không thực sự lớn. Người đọc, người nghe tinh ý đều thấy rõ bản chất, thái độ, động cơ chính trị của chúng, nên không mấy người tin vào những điều hồ đồ như vậy.

Để chống lại thủ đoạn đó, trước hết, chúng ta cần đẩy mạnh việc nghiên cứu, nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp trong thực tiễn; đồng thời, chú trọng hơn nữa công tác sưu tầm, xử lý những thông tin, tư liệu, tài liệu liên quan đến Người ở cả trong và ngoài nước. Cùng với đó, cần quan tâm làm tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, nhất là đối với thế hệ trẻ về thân thế, sự nghiệp và các giá trị văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh. Đối với Quân đội ta, hơn lúc nào hết, trong giai đoạn hiện nay, cán bộ, chiến sĩ càng phải vững vàng về chính trị, tư tưởng, nắm chắc tay súng để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và nhân dân. Muốn vậy,  cán bộ, chiến sĩ phải không ngừng học tập, rèn luyện về mọi mặt, trước hết là về tư tưởng, bản lĩnh chính trị; nhận diện rõ đối tượng, đối tác, cái tốt, cái xấu, những giá trị chân - thiện - mỹ; kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng, làm thất bại luận điệu xuyên tạc thân thế, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thiếu tướng, TS. Đỗ Hồng Lâm,
Tổng Biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử

Tâm Trang (st)

_____________

1. ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr.25.
2. Sđd - Tập I, tr.48.

Bài viết khác:

THÔNG BÁO TỔ CHỨC LỄ VIẾNG

 THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. 

Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

  1. Ban Tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 17 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455128
  2. Ban Đón tiếp, Văn phòng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 1 Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455168 - 024 37345484
  3. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội.
    Điện thoại: 069 591930024 38455168 - 024 37345484

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập (Phiên truy cập)

66253876
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
44255
295234
580172
66253876