Xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc để năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại là chủ trương lớn, được tính toán hết sức cẩn trọng, có tính khả thi cao ở thời điểm công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo hơn 35 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đồng thời, phù hợp với sự phát triển của thế giới, khu vực, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và kết quả, kinh nghiệm của quá trình ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Đây là chủ trương thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy, nhận thức mới của Đảng đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Vì vậy, cần nhận thức một cách đầy đủ, khách quan, toàn diện nội dung cơ bản, cốt lõi về chủ trương này để tạo sự thống nhất, đồng thuận cao trong mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ toàn quân nhằm quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả; tập trung vào một số nội dung cơ bản sau:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Vì vậy, vấn đề quan trọng trước tiên cần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân sự mà không có chính trị thì như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”1; đồng thời, tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”. Thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội, xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong Quân đội trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo toàn quân hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; gắn xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ; tăng cường đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Xây dựng Quân đội tinh, gọn mạnh sẽ tác động trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Trong khi quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng Quân đội, cần làm rõ việc xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh là một yêu cầu khách quan, cấp thiết, bảo đảm cho Quân đội ta ngày càng mạnh lên, tính cơ động cao, cơ cấu tổ chức hợp lý, vũ khí, trang bị hiện đại, sẵn sàng chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Cùng với thống nhất nâng cao nhận thức, khắc phục khó khăn, đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, có chủ trương, giải pháp cụ thể, triển khai thực hiện từng bước theo lộ trình, chặt chẽ, đồng bộ, kiên quyết, kiên trì, sát thực tiễn. Đồng thời, làm tốt công tác tư tưởng, gắn công tác tư tưởng với công tác tổ chức, cán bộ và chế độ, chính sách, tạo sự đồng thuận cao trong quá trình tổ chức thực hiện.

XD quan doi tinh gon
Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại Hội nghị Quân chính

6 tháng đầu năm 2021

Hai là, đột phá về tổ chức và trang bị. Để thực hiện hiệu quả vấn đề này, trước hết phải quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng về điều chỉnh tổ chức Quân đội, nhất là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới: “Tiếp tục thực hiện việc điều chỉnh tổ chức Quân đội để có cơ cấu cân đối giữa các quân chủng, binh chủng, bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, lực lượng thường trực và dự bị động viên”; Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ Quân đội: “Đến năm 2025 cơ bản hoàn thành việc điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng tinh, gọn, mạnh; đến năm 2030 một số quân chủng, binh chủng, lực lượng hiện đại, phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại...”. Triển khai thực hiện có hiệu quả đề án tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới; Đề án chiến lược bảo đảm vũ khí, trang bị cho Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Trên cơ sở đó, toàn quân đẩy mạnh việc rà soát, đánh giá cụ thể quân số, tổ chức, trang bị của từng cơ quan, đơn vị, làm cơ sở điều chỉnh, kiện toàn tổ chức, biên chế, bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới. Quá trình rà soát, điều chỉnh cần bảo đảm khách quan, toàn diện, trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ của từng loại hình cơ quan, đơn vị và lực lượng. Cùng với tinh giản cần tiếp tục đầu tư xây dựng các lực lượng được xác định tiến thẳng lên hiện đại; nghiên cứu điều chỉnh, điều chuyển, thành lập một số đơn vị dự bị chiến lược; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, có tổ chức hợp lý, chất lượng ngày càng cao; sắp xếp lại các nhà máy sản xuất, cơ sở sửa chữa quốc phòng theo nhóm sản phẩm, công nghệ; điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các binh đoàn, đoàn kinh tế - quốc phòng phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Đối với khối cơ quan cấp chiến dịch, chiến lược, tập trung rà soát, điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng giảm đầu mối trung gian; bổ sung chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, khắc phục sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ để tăng cường quân số cho các đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đóng quân trên các địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo. Đối với khối đơn vị chiến đấu, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị để điều chỉnh tổ chức, theo hướng tăng cường sức mạnh tác chiến, khả năng cơ động cao, sẵn sàng xử lý các tình huống; coi trọng xây dựng lực lượng đặc thù, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tác chiến trong tình hình mới. Sắp xếp lại các nhà máy sản xuất, cơ sở sửa chữa quốc phòng và điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế các nhà trường Quân đội, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Qua đó, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về tổ chức, trang bị của Quân đội hiện đại: tinh, gọn, mạnh, có cơ cấu hợp lý, số lượng phù hợp, chất lượng ngày càng cao.

Ba là, xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng đạt trình độ tiên tiến, hiện đại. Đây là vấn đề quan trọng liên quan trực tiếp đến xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh. Đại hội XIII của Đảng xác định: Phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội. Để thực hiện vấn đề này, trước hết tập trung xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng có quy mô, tổ chức, cơ chế quản lý phù hợp, bảo đảm tập trung, thống nhất về quản lý Nhà nước, phát huy vai trò, trách nhiệm tự chủ của các cơ sở công nghiệp quốc phòng. Kiện toàn tổ chức ngành kỹ thuật theo hướng “tinh, gọn, mạnh, thống nhất”, phù hợp với tính năng công nghệ của vũ khí, trang bị kỹ thuật với nhiệm vụ của từng cấp, bảo đảm công tác quản lý, chỉ huy, chỉ đạo thông suốt, không chồng chéo. Đổi mới phương thức bảo đảm kỹ thuật đối với vũ khí, trang bị kỹ thuật thế hệ mới, công nghệ cao theo hướng tập trung, thống nhất; đổi mới tư duy sản xuất vật tư kỹ thuật theo hướng mở rộng liên doanh, liên kết, xã hội hóa, v.v.

Cùng với đó, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp quốc phòng dài hạn, trung hạn, phù hợp với điều kiện mới. Từng bước hội nhập công nghiệp quốc phòng vào công nghiệp quốc gia, thúc đẩy công nghiệp quốc gia phát triển. Ưu tiên phát triển các ngành, sản phẩm công nghiệp cơ bản, có tính lưỡng dụng cao. Đầu tư xây dựng có trọng điểm một số cơ sở công nghiệp quốc phòng có công nghệ tiên tiến, hiện đại, làm nòng cốt xây dựng các tổng công ty tiến tới hình thành các tập đoàn, tổ hợp công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng, công nghệ cao, có nhiệm vụ nghiên cứu, sản xuất và bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự; tập trung vào các hệ thống: tên lửa, tự động hóa chỉ huy, tác chiến không gian mạng; phòng, chống chiến tranh hạt nhân, hướng tới tác chiến vũ trụ, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Bốn là, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là một trong các đột phá chiến lược, có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho Quân đội tinh, gọn, mạnh, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong điều kiện mới. Số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao phải được phát triển mạnh tương ứng với các bước theo lộ trình hiện đại hóa về vũ khí, trang bị kỹ thuật, yêu cầu hiện đại hóa các quân chủng, binh chủng, lực lượng. Tuy nhiên, phát triển về số lượng cần phù hợp với cơ cấu hoạt động, tổ chức, biên chế của Quân đội; đồng thời, phản ánh mức độ sử dụng lao động quân sự và tương ứng với trình độ vũ khí, khoa học công nghệ quân sự. Việc chuẩn bị nguồn nhân lực phải quan tâm đến cả nguồn kế cận và nguồn kế tiếp, nhất là nguồn cán bộ cao cấp, cán bộ khoa học, chuyên gia đầu ngành. Phát triển nhanh về số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao, song phải bảo đảm tính vững chắc và có nguồn dự trữ phù hợp. Tập trung phát triển đội ngũ cán bộ khoa học quân sự, chuyên gia đầu ngành, lực lượng giảng viên trong hệ thống nhà trường; cán bộ nghiên cứu ở các viện, trung tâm khoa học của Quân đội. Phát triển đội ngũ cán bộ chỉ huy tham mưu, quân sự, chính trị các cấp có chất lượng cao; xây dựng đội ngũ cán bộ hậu cần, kỹ thuật, kinh tế đủ sức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chú trọng gia tăng lực lượng chuyên gia, đội ngũ cán bộ chuyên môn kỹ thuật cao ở các đơn vị kỹ thuật, bảo đảm đủ nguồn nhân lực chất lượng cao theo yêu cầu biên chế xây dựng Quân đội, trước hết ưu tiên cho những đơn vị trọng điểm.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập sát yêu cầu, nhiệm vụ, địa hình, địa bàn, môi trường tác chiến, thời gian thực. Trong giáo dục và đào tạo, bảo đảm hệ thống, đồng bộ và liên thông giữa các cấp học, bậc học. Đổi mới mạnh mẽ, toàn diện cả nội dung, chương trình và tổ chức, phương pháp dạy - học, nhằm nâng cao chất lượng lâu dài ngay từ đầu ra ở các học viện, nhà trường, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”.

Thiếu tướng, PGS, TS. Vũ Cương Quyết,
Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng

Theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân

Tâm Trang (st)

________________

1. Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 6, Nxb CTQG, H. 2011, tr.130.

Bài viết khác:

THÔNG BÁO TỔ CHỨC LỄ VIẾNG

 THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. 

Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

  1. Ban Tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 17 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455128
  2. Ban Đón tiếp, Văn phòng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 1 Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455168 - 024 37345484
  3. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội.
    Điện thoại: 069 591930024 38455168 - 024 37345484

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập (Phiên truy cập)

69928794
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
12760
62108
793223
69928794