Gắn bó mật thiết với nhân dân là phẩm chất cốt lõi thể hiện bản chất, sức sống của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ý dân là ý trời. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại”1.

Nhân dân là cội nguồn làm nên sức mạnh vô tận và vô địch của Đảng. Nắm được sức mạnh của lòng dân, có được sự ủng hộ của nhân dân là vũ khí tối ưu trên mọi trận tuyến chống các thế lực thù địch, phản động.

Trái lòng dân là mất tất cả

Có thể khẳng định, trải qua các thời kỳ phát triển của Đảng, việc xây dựng mối liên hệ, gắn bó với nhân dân luôn được Đảng coi trọng. Đảng thường xuyên khẳng định cần gắn bó mật thiết với nhân dân, coi đây là cội nguồn sức mạnh, nhân tố làm nên thắng lợi của Đảng, của sự nghiệp cách mạng. Đến Đại hội X (2006), trước yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ trong thời kỳ mới, Đảng chính thức nâng vấn đề này lên thành nguyên tắc và ghi vào trong Điều lệ Đảng: "Đảng phải giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân". Đây thực sự là một bước ngoặt, đánh dấu nhận thức mới của Đảng đối với mối quan hệ Đảng với nhân dân trong tình hình mới.

Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân có vai trò to lớn không chỉ đối với bản thân Đảng, mà còn có ý nghĩa, tác dụng to lớn đối với các tầng lớp nhân dân, đối với Nhà nước và các đoàn thể nhân dân do Đảng lãnh đạo. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Gắn bó mật thiết với nhân dân trở thành quy luật tồn tại và phát triển của Đảng.

Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân xuất phát từ yêu cầu của đảng cầm quyền: Đảng muốn giữ được vị trí cầm quyền phải giữ được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân. Quần chúng nhân dân là đối tượng lãnh đạo của Đảng. Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân. Vì thế, mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân tạo nên sức mạnh của Đảng, duy trì và củng cố vững chắc địa vị cầm quyền của Đảng. Từ thực tiễn sinh động, từ phong trào quần chúng, Đảng hoạch định, xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách. Những sáng kiến đóng góp của quần chúng giúp Đảng đề ra được đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân. Khi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được ban hành, chính nhân dân là người thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách đó. Mục tiêu, đường lối của Đảng chỉ có thể trở thành thực tiễn trong đời sống của nhân dân khi Đảng huy động được mọi nguồn lực trong nhân dân, được nhân dân đồng tình và tự giác thực hiện. Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân góp phần trực tiếp khơi dậy nguồn nhân lực, tài lực, vật lực, trí lực dồi dào của nhân dân, nhân lên thành sức mạnh để hiện thực hóa lợi ích của nhân dân.

bao ve loi vang 4
Quang cảnh phiên bế mạc Đại hội XIII của Đảng tại Trung tâm Hội nghị quốc gia.
 Ảnh: nhandan.com.vn

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường. Nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị được nâng cao; coi trọng việc lắng nghe, nắm tình hình và giải quyết những nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, những vấn đề bức xúc của nhân dân; góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Trong 5 năm qua, các cấp ủy đã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ chức chính trị-xã hội tổ chức hơn 90.000 hội nghị đối thoại giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân; MTTQ, tổ chức chính trị-xã hội các cấp và nhân dân đã có hơn 32.000 ý kiến góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

Một trong những bài học kinh nghiệm được Đảng ta rút ra từ những thành công của quá trình đổi mới, nhất là sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Đó chính là nguyên nhân quan trọng để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, thu được những thành tựu rất quan trọng, toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế-xã hội. Nhiều lĩnh vực để lại dấu ấn nổi bật như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, chống tham nhũng, lãng phí...

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”.

“Bệnh” xa dân còn nặng

 Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân ai cũng thấy đúng, thấy quan trọng, cần thiết, nhưng trong thực tế vận hành nguyên tắc thì còn tồn tại nhiều hạn chế, khuyết điểm. Nghị quyết Đại hội XIII xác định: “Công tác dân vận có nơi, có lúc còn hạn chế; một số cấp ủy, tổ chức đảng còn xem nhẹ công tác dân vận; việc nắm, đánh giá, dự báo tình hình, nhất là ở những địa bàn phức tạp chưa kịp thời, sâu sát. Công tác vận động, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và trách nhiệm của nhân dân còn một số bất cập. Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tập hợp, phát triển đoàn viên, hội viên; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Vai trò giám sát, phản biện xã hội của MTTQ, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp, nhất là giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên”2.

Không ít cấp ủy, tổ chức đảng ở cơ sở chưa quan tâm, chú trọng phòng ngừa, phát hiện sớm, chưa kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, chưa giải quyết triệt để những bức xúc chính đáng của nhân dân, vẫn để xảy ra những “điểm nóng” về chính trị-xã hội. Cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực vẫn ở tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” khiến người dân có cảm giác “quan ở xa, bản nha ở gần”. Các tổ chức chính trị-xã hội hoạt động còn nặng về hành chính, chưa thực sự thu hút, lôi cuốn quần chúng. Cán bộ làm công tác ở MTTQ các cấp còn bị xem nhẹ, chưa có cơ chế hoạt động hiệu quả, chưa có nhiều cán bộ giỏi đam mê làm công tác này. Tinh thần phục vụ nhân dân của không ít cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính chưa tốt; công tác cải cách hành chính còn chậm. Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở còn nặng về hình thức. Cấp ủy, tổ chức đảng ở một số nơi chưa thực sự dựa vào dân để xây dựng Đảng. Tổ chức đảng và đảng viên chưa bám sát đời sống một bộ phận nhân dân gặp khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, công nhân lao động ở các khu công nghiệp...

Một bộ phận cán bộ, đảng viên vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân. Trong xã hội đang hình thành một tầng lớp thượng lưu “đặc quyền, đặc lợi”, sống xa xỉ, hưởng lạc, xa cách nhân dân lao động, trong đó có cả đảng viên hoặc vợ con của những đảng viên là cán bộ cấp cao. Một số cấp ủy, tổ chức đảng ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết thiếu khoa học, thiếu dân chủ, không đáp ứng được nguyện vọng của quần chúng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII cho rằng: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường3.

Những giải pháp gần dân

Đại hội XIII của Đảng với quan điểm “kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng” đã xác định: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng” là một trong những nhiệm vụ, giải pháp đột phá trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Theo chúng tôi, triển khai nhiệm vụ, giải pháp này cần thực hiện một số nội dung trọng tâm sau đây:

Một là, cấp ủy các cấp tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”.

Hai là, hoàn thiện thể chế “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân”; trong đó cụ thể hóa các quy định về bí thư cấp ủy định kỳ tiếp xúc, đối thoại với quần chúng nhân dân; quy định về vai trò của quần chúng nhân dân trong giám sát, quản lý, đánh giá đội ngũ cán bộ; tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

Ba là, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương. Trong kiểm điểm, đánh giá chất lượng đảng viên hằng năm, nhất định phải có phần kiểm điểm, đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của đảng viên.

Bốn là, cấp ủy các cấp, nhất là Trung ương Đảng tăng cường công tác nắm bắt, nắm chắc lòng dân với các chỉ số đo lường trung thực, chính xác. Có nắm chắc lòng dân thì mới có giải pháp, biện pháp kịp thời củng cố, nâng cao sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Đảng ta là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhưng Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Chính điều đó giúp Đảng ta luôn xứng đáng là đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, của nhân dân và của cả dân tộc. Nội dung này, chúng tôi xin được gửi đến bạn đọc trong bài viết tiếp theo.

(còn nữa)

Nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân

Theo Báo Quân đội nhân dân

Đức Thi (st)

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia Sự Thật, 2011, t.10, tr.63
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2021, t.2, tr.205-206.
3. Báo Quân đội nhân dân, ngày 5-10-2021

Bài viết khác:

THÔNG BÁO TỔ CHỨC LỄ VIẾNG

 THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. 

Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

  1. Ban Tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 17 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455128
  2. Ban Đón tiếp, Văn phòng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 1 Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455168 - 024 37345484
  3. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội.
    Điện thoại: 069 591930024 38455168 - 024 37345484

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập (Phiên truy cập)

72859728
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
19173
223537
140862
72859728