Chỉ mục bài viết

77. Bác Hồ với việc học tập và sử dụng tiếng nước ngoài (tiếp)

Bác Hồ với tiếng Anh

Qua tiếng Pháp, Bác học thêm tiếng Anh.

- Tại sao đi Anh?

Bác nói là để học tiếng Anh.

Bác sang Anh có nhiều mục đích, nhưng chắc chắn cũng là để học thêm một thứ tiếng nước ngoài ở ngay trên đất nước nói tiếng đó. Bác muốn học được nhanh hơn, thuận lợi hơn nên sang Anh để có một môi trường tiếng Anh tốt hơn là ở đất Pháp. Tất nhiên, vẫn phải vừa làm vừa học. Ngày nay, đường phố Hây-ma-kít lớn rộng giữa thủ đô Luân Đôn còn ghi dấu vết tiệm ăn khách sạn Các-lơ-tơn (Cariton Hotel), nơi khoảng năm 1914 Bác đã làm phụ bếp ở đấy. Khách sạn lớn nhất nước Anh hồi bấy giờ có ông vua bếp nổi tiếng là Ét-cốp-phi-e được Huân chương vinh dự. Cũng làm ở tiệm này có ông Nam, người đồng hương với Bác.

- Ai đưa anh đến đây, đến nước Anh?

- Tôi đến đây một mình để học tiếng Anh.

Hay đấy, nhưng tiếng Anh rất khó học. Đã hai mươi năm tôi ở thành phố này mà không biết hơn, ngoài hai chữ Yes và No (vâng và không).

- Phải học chứ. Chúng ta sẽ cùng nhau học.

Trước khi đến khách sạn này, Bác đã đi làm công việc đốt lò. "Ở đây thật đáng sợ" vì luôn luôn ở trong cảnh "tranh tối tranh sáng", vì "trong hầm hết sức nóng, ngoài trời hết sức rét". Không đủ quần áo nên Bác bị cảm, phải nghỉ việc luôn hai tuần. Khi Bác trả tiền thuê phòng, tiền bơ, bánh mì và tiền "sáu bài học chữ Anh" rồi, trong túi chỉ còn vẻn vẹn có sáu hào rưỡi! Bác đã phải "thắt lưng buộc bụng" để học tiếng Anh trong một hoàn cảnh khó khăn như thế đấy!

Thường ngày, Bác phải làm từ 8 đến 12 giờ, chiều từ 5 đến 10 giờ. Phương tiện học là vài quyển sách và một cây bút chì. Sớm chiều, Bác đến ngồi ở vườn hoa Hay-đơ, nơi có nhiều cây to, cột đèn cổ xưa để học. Vườn hoa Hay-đơ (Hyde Park) là nơi míttinh thị uy của nhân dân lao động ở Luân Đôn. Thật là một cuộc "gặp gỡ" kỳ thú! Trước kia, Lênin và Cơ-rúp-skai-a cũng đã học tiếng Anh ở vườn hoa này! Có lần, khi đến thăm một lớp học, Bác nói rằng học tiếng nước ngoài phải kiên nhẫn, vượt khó, có lúc Bác phải ra vườn hoa Hay-đơ học vì “ở đấy lạnh không buồn ngủ”.

Quả là như vậy, một ngày làm đến 9, 10 tiếng vất vả, ăn mặc thiếu thốn, tiếng Anh học đã khó lại thêm phương tiện, điều kiện chẳng có gì. Bác phải tự học, không thầy, không bạn, không trường, không lớp. Do đó Bác phải tìm một chỗ học thuận lợi hơn, giúp thêm cho nghị lực quyết tâm và điều kiện học của mình hơn. Đó là điều bình thường thôi. Dĩ nhiên, "hàng tuần, vào ngày nghỉ", Bác vẫn đi học tiếng Anh với một giáo sư người Ý.

- Ở Anh không lâu, thời gian học cũng ngắn, thế nhưng trình độ tiếng Anh của Bác chẳng thua kém gì mấy so với tiếng Hán và tiếng Pháp là những thứ tiếng thành thạo của Bác, Bác học tiếng Anh chủ yếu trong thời gian này. Trong tờ báo "Phong trào", số tháng 10 năm 1969, Rơ-nê Đi-pét có viết rằng: Trên đường đi tìm hiểu thế giới, ở mỗi nơi tàu dừng lại, "đối với anh Ba, đều là một trường đại học", ở đó anh đã trực tiếp thu lượm được những hiểu biết về sự tàn bạo của bọn tư bản. Tuy vậy, Bác cảm thấy cần phải mở rộng kiến thức của mình bằng sách vở.

Ở Luân Đôn, Bác đã làm nhiều nghề khác nhau để có tiền ăn học. Trong thời gian chiến tranh, Bác đã để thì giờ để nghiên cứu lịch sử thế giới, học tiếng Anh và suy nghĩ về tương lai của các dân tộc thuộc địa.

Qua nhiều tư liệu, ta thấy Bác nói giỏi tiếng Anh, thông thạo văn hóa và lịch sử Anh, Mỹ - nhất là Mỹ. Bác đã dịch nhiều đoạn, nhiều câu rút trong báo chí Anh, Mỹ và các nước khác để đưa vào tiểu phẩm của mình. Tài liệu nói về Mỹ của Bác đã lên đến hàng mấy trăm bài với các thể loại khác nhau, đề cập toàn diện và sâu sắc đến nước Mỹ (Bác ký nhiều tên khác nhau).

Qua thăm nhiều thành phố ở Mỹ như Oa-sinh-tơn, Niu Oóc, Bô-stơn... xem nhiều sách báo về Mỹ, những việc đó đã phần nào giúp Bác hiểu tường tận hơn để những dự đoán khoa học, kết luận cách mạng thiên tài hơn. Qua nghiên cứu, ta thấy Bác là nhà lý luận về chủ nghĩa thực dân nói chung cũng như về chủ nghĩa thực dân (kiểu mới) nói riêng. Chính tiếng Anh (của Bác) đã giúp nhiều cho Bác trong hoạt động đó. Bác đã đọc biết bao nhiêu là sách tiếng Anh, nào là Uy-li-am Sếch-xpia (1564 - 1616), nhà viết kịch thời Phục hưng, nào là Sác-lơ Đích-ken (1812 - 1870), nhà văn hiện thực phê phán vĩ đại, nào là Ha-ri-ét-bít-chơ Stao (1811 - 1896)... cho đến đủ loại báo chí tiếng Anh như báo "Bang Oóc-lê-ăng mới", báo tin tức hàng ngày ở Giắc-xơn...

Bản thân Bác cũng là một nhà báo đã từng viết bài bằng chữ Anh. Khi cùng làm việc với Bô-rô-đin, cố vấn Chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ cách mạng Quảng Châu, Bác giữ nhiều nhiệm vụ quan trọng trong đó có việc phiên dịch từ tiếng Hán sang tiếng Anh và ngược lại, Bác đã viết bài và phụ trách mục tuyên truyền cho tờ Quảng Đông ra hằng ngày, báo bằng chữ Anh của Trung ương Quốc dân đảng. Đó là những ngày cuối năm 1924 và đầu năm 1925. Trong thời gian ở Hương Cảng, Bác đã làm cho hãng Thông tấn Rới-sta (Rulcta) của Anh và đã dành dụm tiền lương để nuôi anh em, đồng chí Việt Nam hoạt động ở đấy.

Bài viết chữ Anh của Bác thì nhiều lắm. Hiện nay, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng của ta còn giữ được Bản báo cáo của Bác gửi Quốc tế Cộng sản bằng chữ Anh (tháng 2 năm 1924); Bức thư Bác gửi Quốc tế Cộng sản (tháng 12/1924), bản "Đề nghị" (Proposition) và "Lời kêu gọi" (Appeal) bằng chữ Anh. Đó là những văn kiện lịch sử quan trọng.

Dưới sự chủ tọa của Bác, đại diện cho Quốc tế Cộng sản, Hội nghị thành lập Đảng họp vào ngày 03/02/1930 đã thông qua các văn kiện của Đảng, trong đó có "Lời kêu gọi" này của Bác. Hiện nay ta vẫn chưa sưu tầm được bản gốc bằng tiếng Việt của văn kiện, do đó bản tiếng Anh của "Lời kêu gọi" kèm theo Bản báo cáo của Bác gửi cho Quốc tế Cộng sản (cũng vào dịp đó) có một ý nghĩa quan trọng đối với công việc nghiên cứu lịch sử Đảng ta.

Tiếng Anh còn được Bác dùng nhiều trong việc giao thiệp tiếp xúc họp báo. Qua cuốn sách của Trần Dân Tiên, ta được biết thêm một chuyện lý thú: "Cuối năm 1944, một chiếc máy bay Mỹ lượn trên Cao Bằng và bị hỏng máy. Phi công trẻ tuổi - Trung úy Sao (Shaw) nhảy dù xuống một hòn núi gần tỉnh lỵ. Sao được Việt Minh cứu thoát.

Trước việc này, Việt Minh đã chỉ thị cho các hội viên trong toàn quốc phải cố gắng giúp đỡ đồng minh. Những người Việt Minh Nam Bộ đã liên lạc bí mật với nhiều lính Mỹ, Anh bị giam ở Sài Gòn, nhưng vì không hiểu tiếng của nhau nên họ không thể thảo luận và làm những việc có ích hơn (...) Sao rất vui sướng khi được gặp Cụ Hồ gần biên giới. Từ một tháng nay nhịn nói, Sao bây giờ có thể tha hồ nói. Sao thỉnh cầu Cụ Hồ đi với mình đến Bộ Tổng tư lệnh Không quân ở Côn Minh. Cụ Hồ vui vẻ nhận lời... Hai người chia tay sau năm ngày đi với nhau trên đất Trung Quốc (Tất nhiên là Sao đã được năm ngày tha hồ nói). Bác đến Côn Minh (Vân Nam), người Mỹ gặp Bác để cảm ơn. Sau đó Bác đi Quảng Tây và gặp Tướng Sen-nô (Chennault), Tổng Tư lệnh Không quân Mỹ ở Trung Quốc. Qua nhiều ngày nói chuyện với tướng Sen-nô, với Đại tá Hê-li-oen (Heliwell), với Trung úy Sao,... Bác nắm được nhiều tình hình. Theo Giu-lơ A-sơ trong cuốn Hồ Chí Minh - chuyện thần kỳ của Hà Nội, thì hồi ấy, "trong khi chờ đợi, Cụ đã đồng ý dịch viết và dịch nói cho "Bộ Thông tin chiến tranh của Mỹ" những tài liệu quan trọng lấy được của địch (tức của phát xít Nhật).

Qua tiếp xúc với nhiều hoạt động trên, Bác nắm được rất nhiều tin tức, Bác rất chủ động. Chúng phải tin, phục và kính nể Bác. Việc giúp Sao, việc đi thương lượng với phái bộ đồng minh (Mỹ) ở Trung Quốc, việc nhận giúp đỡ các nạn nhân của đồng minh thoát khỏi nanh vuốt phát xít Nhật… là để thực hiện một sách lược phong phú và linh hoạt hết sức có lợi cho đấu tranh cách mạng. Hồi ấy, Bác thường đến cơ quan đồng minh Mỹ trong một khu rừng ở Việt Bắc, nhờ thạo tiếng Anh nên nghệ thuật “tác chiến” đối ngoại của Bác càng thêm tài tình. Theo R. Sáp-lên, trong điều bí ẩn về Cụ Hồ Chí Minh (Enigma of Hồ Chí Minh) thì tháng 5 năm 1945, một Trung úy Mỹ tên là Giôn nhảy dù xuống Việt Bắc với mục đích nhằm xây dựng một cơ sở giúp các cá nhân của đồng minh thoát khỏi vùng do phát xít Nhật chiếm đóng. Giôn đã sống và làm việc với Bác trong vài tháng. Ngay lúc đó, Bác đã chuẩn bị cho bản "Tuyên ngôn độc lập" vẻ vang của chúng ta sau này. Bác hỏi Giôn có thể nhớ một đoạn văn của bản "Tuyên ngôn độc lập" của Mỹ không? Anh ta trả lời rằng "Tôi là một người Mỹ bình thường, tôi không thể nhớ được. Tôi có thể gọi điện đến Côn Minh và sẽ có một bản thả xuống cho tôi". Sau này Giôn rất khâm phục Bác: "Cụ dường như thực sự biết (về bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ) hơn tôi. Thực tế là, Cụ đã biết hơn tôi về hầu hết mọi thứ". Mãi sau này, Giôn vẫn còn giữ hai lá thư bằng chữ Anh mà Bác đã gửi cho anh ta ở trong rừng ngay sau khi Nhật đầu hàng đồng minh. Trong thư ấy, Bác đã dùng cả những khẩu ngữ, ví dụ Bác dùng chữ Japs (mang nghĩa xấu, có nghĩa là bọn Nhật - phát xít).

Có lần, một vị Tổng thống của một nước bạn đến thăm. Ta đón tiếp nồng nhiệt. Khách cao tuổi đi không vững. Sau khi ôm hôn, Bác dìu khách đi chậm từng bước dọc theo tấm thảm nhung đỏ. Giản dị, chân tình và khiêm nhường Bác đỡ vị khách lên bục. Khách nói tiếng Anh. Dù Bộ Ngoại giao ta đã bố trí người dịch giỏi, nhưng Bác không câu nệ thủ tục ngoại giao, nhằm tranh thủ chính trị nên đã dịch sang tiếng Việt cho mọi người nghe. Không khí gần lại. Giới ngoại giao ngạc nhiên và xôn xao. Việc làm ấy, bình thường, không phải công việc của một Chủ tịch nước, nhưng đã có sức cảm hóa lớn. Người ta thấy ngay vẻ ngạc nhiên, kính cẩn của các vị khách đối với người "phiên dịch" hiếu khách, quý bạn vĩ đại này. Ngày lên đường, trong diễn văn từ biệt, vị khách nhiều hơn Bác đến sáu tuổi và là người đứng đầu của một nước lớn này, đã kính trọng gọi Bác là "người anh cả".

Bác nghe tiếng Anh cũng thạo. Trước cách mạng, hồi còn ở Trung Quốc, Bác đã phải nghe máy thu thanh để theo dõi tin tức quốc tế nhằm phục vụ cho công tác cách mạng. Bác kể lại rằng: Việc nghe ra-đi-ô cũng không dễ, vì lần này là lần đầu tiên mó tay đến cái máy thu thanh, không biết đài nào phát, phát giờ nào và làn sóng nào. Bác thức suốt năm đêm, vặn đi vặn lại tìm nghe. Đến khuya đêm thứ sáu mới nghe được đài Luân Đôn.

Qua một số mẩu chuyện trên, ta thấy Bác giỏi tiếng Anh về nhiều mặt, cũng vì vậy nên không ai lấy làm ngạc nhiên khi trong thiên hồi ký của mình, đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp có nhắc đến chuyện hồi còn hoạt động bí mật ở Trung Quốc, nhiều đồng chí Trung Quốc ở Quế Dương cứ mong đồng chí Hồ Quang (một bí danh của Bác) đến công tác để dạy họ "nói tiếng Nga và tiếng Anh".

Đồng chí Hoàng Xuân Sính (giáo sư, tiến sĩ toán học) cũng nhớ lại một kỷ niệm xa xưa khi mình còn niên thiếu (khoảng 1945 - 1946).

Bác đến thăm trường nữ trung học ở Hà Nội. Sính đang học bài tiếng Anh thì Bác vào, theo sau là cô Hiệu trưởng. Cả lớp bật dậy vỗ tay nồng nhiệt. Bác ra hiệu cho tất cả ngồi xuống và Sính được tiếp tục đọc bài tập ghép vần. Giọng Sính không được bình thường vì cô bé xúc động trong niềm vui sướng bất ngờ. Vì thế, Sính phát âm sai khá nhiều. Bác đến gần Sính và ôn tồn đọc lại cho nghe những câu trong bài. Sính chăm chú đọc theo Bác, nhưng cảm động nên vẫn đọc sai. Bác kiên trì chữa lại cho từng câu. Hơi nghiêng người về phía Sính, hai tay đưa lên cổ vũ khích lệ, Bác nói dịu dàng: "Cháu đọc thế này mới đúng".

Bác Hồ với tiếng Nga

Bác bắt đầu học tiếng Nga lúc mới đặt chân lên đất nước Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại. Trải qua bao nhiêu nguy hiểm, gian lao, đến khách sạn sang trọng này bình thường ra mà nói, người ta phải nghỉ ngơi một thời gian, thế nhưng Bác đã tranh thủ học tiếng Nga ngay. Và chỉ trong một thời gian ngắn, Bác đã nghe và nói được một số câu thường dùng trong đời sống hàng này. Đó là một điều làm anh bạn thân của Bác phải ngạc nhiên. Cũng với tinh thần ham học hỏi đó, mà trước sau trong khoảng 5 năm ở Liên Xô, Bác đã có thể nắm được khá thành thạo thứ tiếng thuộc dòng Sla-vơ này, thứ tiếng mà có lần Bác nói là "khó đọc lắm". Ta hiểu rằng tiếng Nga là một thứ tiếng khác xa với tiếng Việt, Hán và cả tiếng Anh, Pháp nữa. Nói chung chẳng có gì gần gũi với tiếng Việt. Có người đã nói vui rằng: Học xong sáu cách thì có một cách thứ bảy nữa là "cách chuồn!" để chỉ những ai đó học tiếng Nga không bền bỉ, thiếu quyết tâm. Nếu cố gắng thì mọi khó khăn đều có thể vượt qua được.

Anh hùng Lao động Đỗ Chanh, người đã vinh dự được gặp Bác đã kể lại rằng:

Cuối tháng 4 năm 1956, khi kết thúc khóa học, anh chị em lớp cán bộ công nghiệp sắp đi thực tập ở nước ngoài vào thăm Bác. Bác hỏi lớp bao nhiêu người, có khỏe không, vui không...

- Các cô, các chú đi Liên Xô thì có được học tiếng Nga không?

- Có ạ.

- Học mấy tháng?

- Thưa Bác, bốn tháng ạ.

- Học có tốt không?

Tất cả ngập ngừng, không ai dám trả lời. Bác chỉ mỉm cười, chỉ một đồng chí ngồi gần: - Chú nói xem nào: "Ăn".

Chả biết lúng túng thế nào, đồng chí đó phát âm sai, tiếng "ăn" gần giống như tiếng "tắm". Tất cả cười. Bác cũng cười vui.

Bác có kinh nghiệm về học và dùng tiếng nước ngoài. Đó là một điều chắc chắn, riêng tiếng Nga chẳng hạn, Bác đều luôn lưu ý học và dùng tiếng Nga trong nhiều lĩnh vực hoạt động. Thời kỳ ở Liên Xô (từ năm 1933 đến 1938) là thời kỳ Bác có điều kiện trau dồi tiếng Nga hơn cả. Bác vào học trường bổ túc các lãnh tụ do Quốc tế Cộng sản mở. Bác lấy tên là Li-nơp, giống với tên gọi Nga. Khi viết bài bằng tiếng Pháp để gửi về nước, Bác lại lấy tên là Lin cho hợp với tên gọi Pháp. Bác cũng làm việc ở Viện Nghiên cứu lịch sử phương Đông của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.

Theo đồng chí Nguyễn Khánh Toàn thì "Bác vào trường Lênin là trường Đảng cao cấp cho các lãnh tụ các nước ngoài", rồi sau chuyển hẳn sang Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, đồng thời làm việc ở Quốc tế Cộng sản. Bác vào học lớp nghiên cứu sinh Ban Sử học của Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, Bác cũng đồng thời "nhận phiên dịch ra tiếng Việt tài liệu".

Bác đã từng viết rất nhiều bài cho một số báo chí Liên Xô như "Đời sống công nhân Ba-kin-xki", "Tiếng còi", "Tạp chí Đỏ", "Thời mới", "Sự thật"... Bác cũng từng đi nhiều nơi trên đất nước rộng lớn nhất thế giới này, từng tiếp xúc với nhiều người, nhiều tầng lớp. Vì thế, Bác nói và nghe được tiếng Nga.

Theo nhà báo Thép Mới, người được đi cùng với Bác sang thăm Liên Xô năm 1955, thì một đồng chí ở Mạc Tư Khoa cho rằng: Từ trước đến nay, những người nổi tiếng trên thế giới đến Liên Xô mà nói được tiếng Nga có đồng chí Mô-rít Tô-rê (Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp), nhà nghệ sĩ da đen người Mỹ Pơn Rốp-sơn và nay có đồng chí Hồ Chí Minh nữa là ba".

Bác đã sang thăm Liên Xô nhiều lần, đi nhiều nơi, đến đâu cũng nói một ít tiếng Nga. Riêng trường “ngoại ngữ Hồ Chí Minh” ở Iec-kút, Bác đã đến thăm mấy lần. Đây là một học viện dạy tiếng nước ngoài của Liên Xô mang tên Bác vào cuối năm 1969 và là trường kết nghĩa với Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội. Nhà trường còn giữ lại nhiều kỷ niêm đẹp đẽ về Bác. Các đồng chí Liên Xô vẫn còn nhắc lại với lòng xúc động về những buổi gặp gỡ Bác xưa kia: Chính tiếng nước ngoài mà Bác đã dùng làm tăng thêm bầu không khí ấm cúng trong tình đoàn kết quốc tế đó.

R.Các-men, nhà điện ảnh Liên Xô, người làm bộ phim “Việt Nam trên đường thắng lợi” đã được gặp Bác trong một căn nhà nhỏ ở Việt Bắc. Bác nói chuyện với Các-men bằng tiếng Nga:

- Cụ học tiếng Nga như vậy có khó khăn không?

- Người cách mạng phải biết tiếng nói của Lênin!

M.Giu-láp-xki, nhà văn và là nhà báo Ba Lan sang thăm Việt Nam, được gặp Bác nhiều lần. Lần gặp thứ hai của ông là một ngày thu năm 1954. Giu-láp-xki bước vào một căn nhà lớp rạ, tường quét vôi trắng. Ông chưa kịp uống nước thì Bác bước vào và chào bằng tiếng Nga. Buổi nói chuyện thân mật bắt đầu. Bác ra hiệu cho đồng chí phiên dịch không phải dịch nữa, rồi ngồi nghe đồng chí phóng viên báo Sự thật (Liên Xô) nói chuyện. Đôi khi Bác trả lời lại bằng tiếng Nga. Thỉnh thoảng Bác còn nói chuyện bằng tiếng Ý với phóng viên tạp chí Đoàn kết (Unita), cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Ý; bằng tiếng Anh với phóng viên báo Công nhân (Worker), cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Mỹ. Tất cả những người nước ngoài có mặt hôm ấy đều tỏ vẻ ngạc nhiên, khâm phục. Dường như đoán được điều đó, Bác mỉm cười nói bằng tiếng Pháp:

- Các nhà báo nước ngoài thường hay kể những chuyện phóng đại về tôi. Nhưng cũng có những chuyện đúng. Khi còn trẻ, quả thật tôi có làm bồi bếp trên tàu, có đến Mỹ, Anh, Đức. Tôi cũng đã từng sống ở Pari và bắt đầu hoạt động cách mạng cùng các đồng chí Pháp. Nhiều lần tôi qua Liên Xô, Trung Quốc. Ở đâu tôi cũng được công nhân dạy cho tiếng của nước họ. Tôi sống cùng với công nhân ở Ý rồi cả ở Châu Mỹ nữa...

Đới Hoàng, một nhà văn Trung Quốc, tác giả quyển hồi ký "Ghi lại nhũng ấn tượng về Chủ tịch Hồ Chí Minh" cũng nói lên những cảm tưởng tương tự. Nhưng thời gian xảy ra trước buổi gặp mặt trên ít tháng và không gian là một địa điểm kín đáo trong rừng sâu Việt Bắc. Đó là bữa tiệc liên hoan mừng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

Đới Hoàng có nhiều ấn tượng đẹp đẽ về Bác, trong đó việc sử dụng tiếng nước ngoài của Bác là một "ấn tượng" sâu sắc, Bác đã dùng tiếng Nga, tiếng Pháp thăm hỏi tình hình sinh hoạt của các bạn bè quốc tế, hỏi về việc ăn uống, nhà ở, khí hậu ở rừng xứ nóng, đường sá khô ướt ra sao... Lúc nói với Đới Hoàng, Bác lại dùng tiếng Hán.

Bữa tiệc diễn ra trong bầu không khí tưng bừng náo nhiệt. Ai cũng muốn vui chung, muốn nói lên những cảm nghĩ đang rạo rực trong lòng mình, nhưng rồi đành chịu ngồi yên vì vướng phải "hàng rào ngôn ngữ". Dường như đoán được điều đó, Bác nói: "Nào các đồng chí có gì cứ nói hết đi, tôi làm phiên dịch cho các đồng chí". Bác nhắc nhở mọi người ăn, giục "cạn chén", "không được làm khách". Câu nào cũng nói bằng đủ các thứ tiếng Nga, Hán, Pháp...

Trong thiên hồi ký của mình, Đới Hoàng cũng khâm phục nhắc đến việc Bác thường trực tiếp đọc và dịch những tác phẩm của chủ nghĩa Mác - Lênin, và đã dịch cuốn tiểu thuyết "Tỉnh ủy bí mật" của Liên Xô (tiếng Nga) sang tiếng Việt.

Lại nữa, có lần đoàn chuyên gia các nước anh em vào chúc Tết Bác. Vì trường hợp đặc biệt nên lần này không có phiên dịch. Thấy mọi người có vẻ lúng túng, Bác mỉm cười bảo: "Thôi được, Bác sẽ dịch cho!". Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói đến đâu, Bác dịch đến đấy bằng các tiếng Nga, Hán, Anh, Pháp. Các đồng chí chuyên gia nhìn Bác với một vẻ khâm phục, trìu mến. Không khí càng thêm chan hòa, thắm tình hữu nghị anh em. Sau buổi tiếp khách, Bác bảo: Dịch không phải dễ đâu, tiếng nói là phải chính xác. Bác kể có một đồng chí phiên dịch đã dịch câu "Chúc Hồ Chủ tịch mạnh khoẻ sống lâu" sang tiếng Việt là "Chúc Hồ Chủ tịch bách niên giai lão!" (Câu dùng để chúc cô dâu chú rể trong các đám cưới). Tất cả mọi người có mặt đều phá lên cười vui vẻ, đồng thời ai nấy đều hết sức thấm thía những lời khuyên của Bác.

Bác thường dùng tiếng Nga để tiếp khách, nói chuyện và thường chỉ dùng một số câu, nhưng cũng có khi Bác trò chuyện khá lâu với các đồng chí Liên Xô. Hai mẩu chuyện sau đây đã chứng tỏ điều đó.

Tơ-ra-chi-a-cốp, Thuyền phó thứ nhất tàu Giắc-gin-xki (Liên Xô) phát biểu rằng: Ngày 30/5/1957 là một ngày rất vui mừng của thuỷ thủ tàu này, vì đồng chí Hồ Chí Minh đã tới thăm tàu, đặc biệt là "trong cuộc nói chuyện thân mật với anh em thủy thủ, đồng chí Hồ Chí Minh luôn dùng tiếng Nga, mà không cần phiên dịch, chúng tôi rất vui sướng khi thấy Người nói tiếng Nga một cách thông thạo".

Xéc-gây-đô-rốp, Trưởng ban thuộc Viện Nghiên cứu toàn Liên bang về nghề đánh cá biển và bản đồ đại đương của Liên Xô đang công tác ở Việt Nam, đã đến gặp và trò chuyện thân mật với Bác vào một ngày gần cuối năm 1959. Trong thiên hồi ký viết mười năm sau, đồng chí cảm thấy sâu sắc rằng: Dù các buổi gặp gỡ có trôi qua theo năm tháng đi nữa, nhưng đồng chí vẫn nhớ rõ những chi tiết nhỏ nhất của bầu không khí vô cùng ấm cúng và thân thiết mà Người đã tạo nên.

Sáng 25/8/1957, Bác đã trực tiếp nghe được "Tiếng nói của Lênin" khi tới thăm phòng làm việc của Người ở Điện Xmôn-ni, Bác rất chăm chú nghe bài diễn văn của Lênin được thu vào băng đĩa nhan đề: "Chính quyền Xô viết là gì?". Những câu hỏi, những lời nhận xét của Người chứng tỏ rằng hiểu biết rất rõ, rất sâu sắc ngay cả các vấn đề nghiên cứu khoa học về biển, đại dương.

Tiếng nói đó cũng góp phần làm tăng thêm bầu không khí đoàn kết hữu nghị giữa các nước anh em. Nhà báo Úc Man-côm Xan-mơn (đã từng dạy tiếng Anh ở Hà Nội trong 3 năm), khi được tin Bác mất đã nhớ lại quang cảnh tiêu biểu, mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, diễn ra hồi 9 năm về trước Xan-mơn thấy Bác tươi cười từ trong hội trường đi ra, hai tay quàng vai hai người đi hai bên, đó là đồng chí Trưởng đoàn đại biểu Liên Xô sang dự Đại hội lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam, và đồng chí Trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc. “Chủ tịch Hồ Chí Minh rất hoạt bát. Cụ quay sang bên này nói bằng tiếng Trung Quốc, lại quay sang bên kia nói bằng tiếng Nga. Dáng người mảnh dẻ của Cụ có sức hấp dẫn hai vị khách. Cảnh tượng đẹp đẽ ấy diễn ra ngay trong ngày bế mạc đại hội, lúc các đại biểu chia tay nhau ra về”.

(Trích trong "Bác Hồ với tiếng nước ngoài")

Tâm Trang (tổng hợp)

Bài viết khác:

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

  1. Ban Tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 17 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455128
  2. Ban Đón tiếp, Văn phòng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 1 Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455168 - 024 37345484
  3. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội.
    Điện thoại: 069 591930024 38455168 - 024 37345484

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập (Phiên truy cập)

52076247
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
12918
134868
68794
52076247