Những năm gần đây, với sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình thế giới, khu vực, nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ đất nước, nhất là an ninh trên biển đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, bên cạnh việc quán triệt quan điểm của Đảng về mục tiêu, nhiệm vụ, phương thức bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần đồng thời phát huy hiệu quả sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc trong bảo đảm duy trì hòa bình, ổn định và giữ vững chủ quyền vùng biển, đảo của Tổ quốc.

tang cuong bien dao 1
Ra thăm cột mốc chủ quyền trên thềm lục địa phía Nam Tổ Quốc (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Ảnh: Nguyễn Đông

Xây dựng thế trận an ninh nhân dân

Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử dân tộc, là nhân tố quan trọng bảo đảm phát triển bền vững. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước”1. Đó là ý chí sắt đá, quyết tâm không gì lay chuyển được của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Trong những năm qua, trước những khó khăn, thách thức đặt ra đối với nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ đất nước, nhất là an ninh trên biển, việc kết hợp chặt chẽ thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân đã được tích cực triển khai. Theo đó, việc tổ chức, bố trí lực lượng tổng hợp, toàn diện của toàn dân trong chiến lược chung bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững sự ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội được thực hiện. Thế trận an ninh nhân dân đã phát huy được vai trò quan trọng của mình, là thế trận tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền an ninh nhân dân, đấu tranh bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia; phát triển tư duy chiến lược và nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Đảng và nhân dân ta; là thế trận tổng hợp cả trong nước và ở nước ngoài; kết hợp chặt chẽ với thế trận quốc phòng toàn dân, tạo nên sức mạnh của cả dân tộc. Với tư tưởng “lấy dân làm gốc”, thế trận an ninh nhân dân là một cuộc vận động phong trào cách mạng của quần chúng xây dựng thế trận an ninh nhân dân từ cơ sở với quần chúng nhân dân là lực lượng quyết định.

tang cuong bien dao 2
Các em học sinh tìm hiểu thư tịch cổ Việt Nam về biển đảo quê hương
Nguồn: ninhbinh.gov.vn

Trong thực tiễn, xây dựng thế trận an ninh nhân dân được phát động ở nhiều địa phương, với nhiều nội dung và hình thức phong phú, đạt hiệu quả cao, như phong trào toàn dân “Hướng về biên giới, biển đảo Tổ quốc”, những cuộc vận động “Viết thư gửi lính đảo Trường Sa”, “Vì biển đảo thân yêu”, “Triệu trái tim hướng về biển đảo Tổ quốc”, “Em yêu biển đảo Việt Nam”, “Vì biển xanh quê hương”... Những phong trào này tạo nên sự chuyển biến về nhận thức, nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về chủ quyền biển, đảo và vai trò của biển, đảo trong công cuộc phát triển đất nước. Không chỉ trong nước, việc xây dựng thế trận an ninh nhân dân trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng tạo nên sức mạnh to lớn, góp phần trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay.

Tuy nhiên, những kết quả đạt được trong công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo chưa thực sự vững chắc. Một số cấp ủy đảng, chính quyền các cấp chưa quán triệt sâu sắc đường lối, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo; chưa tạo được sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành động; còn biểu hiện mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trước âm mưu, hoạt động xâm phạm chủ quyền biển, đảo. Các phương án bảo đảm an ninh chưa được xây dựng và triển khai đồng bộ, chặt chẽ; thiếu cơ chế phối hợp giữa các lực lượng, các cấp, các ngành trong việc giải quyết các tình huống phức tạp; việc giải quyết một số vụ, việc còn bị động, lúng túng, chưa khôn khéo, linh hoạt; một số phương án chậm được sửa đổi, bổ sung, chưa theo kịp sự thay đổi của tình hình. Công tác nghiên cứu và dự báo tình hình, tham mưu chiến lược chưa đáp ứng được yêu cầu. Đặc biệt, tiềm lực của các lực lượng chuyên trách, mũi nhọn trong xây dựng thế trận an ninh nhân dân bảo vệ chủ quyền biển, đảo, như lực lượng công an nhân dân, cảnh sát biển, lực lượng kiểm ngư còn thiếu và yếu. Những hạn chế này đang cản trở hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay.Ngoài ra, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, nhất là tại các địa bàn trọng điểm, cũng đã tạo nên những kết quả nhất định. Bằng những việc làm thiết thực, cụ thể, để tạo môi trường thuận lợi phát triển cho địa phương, các đơn vị làm nhiệm vụ trên biển, đảo đã trực tiếp tham mưu, giúp địa phương phát triển kinh tế biển, xây dựng kết cấu hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; phối hợp đấu tranh kiên quyết với những hành vi gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại các địa bàn ven biển, trên biển. Công tác tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn trên biển đạt được nhiều thành tích, góp phần hạn chế những thiệt hại về người và của. Những việc làm đó củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, động viên người dân lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống mới, tạo nên “thế trận lòng dân” trong hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo đất nước.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận an ninh nhân dân để bảo vệ chủ quyền biển, đảo

Trước những chuyển biến phức tạp của tình hình an ninh khu vực và thế giới, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo đang đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi phải có những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa sức mạnh tổng hợp của thế trận an ninh nhân dân.

Một là, đổi mới và nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm trong toàn Đảng, toàn dân, các ngành, các cấp, các lực lượng về xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đây là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và triển khai thế trận an ninh nhân dân. Tuy nhiên, hiện nay nhận thức của một bộ phận cán bộ các cấp, các ngành và quần chúng nhân dân về trách nhiệm của công dân trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo còn nhiều hạn chế.

Để khắc phục tình trạng này, cần tập trung tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò, tiềm năng của biển, đảo trong công cuộc phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh; nâng cao nhận thức của người dân về đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ chủ quyền biển, đảo; nắm rõ những nội dung cơ bản của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Luật Biển Việt Nam, các văn bản pháp lý mà Việt Nam đã ký kết với các nước; những khó khăn, thách thức đối với vấn đề quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo... từ đó phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Hai là, phát triển mạnh mẽ, bền vững kinh tế, văn hóa - xã hội là những nhân tố quan trọng, xuyên suốt, tạo tiềm lực, sức mạnh vật chất, tinh thần, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần xây dựng và củng cố vững chắc thế trận an ninh nhân dân trong tình hình mới, đặc biệt trong công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển với tốc độ cao, ổn định, bền vững, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường tiềm lực an ninh, quốc phòng, giữ vững ổn định chính trị, xã hội và là cơ sở, nền tảng vững chắc cho nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên biển. Do vậy, cấp ủy, chính quyền các địa phương cần quan tâm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, nhất là ở vùng ven biển và trên đảo, những nơi đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Đồng thời, quan tâm đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng, đường giao thông, các khu vực bảo đảm hậu cần - kỹ thuật nghề cá, trường học, trạm y tế; có chính sách thỏa đáng khuyến khích trí thức trẻ về công tác tại các vùng ven biển còn khó khăn; thu hút, khuyến khích ngư dân và cán bộ ra làm ăn, sinh sống trên các đảo; thực hiện giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội trên các vùng ven biển và trên đảo.

Ba là, phát huy vai trò lãnh đạo của cấp ủy, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của chính quyền địa phương trong xây dựng thế trận an ninh nhân dân trên biển.

Xây dựng thế trận an ninh nhân dân trên biển phải gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân của khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) ven biển, đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của cấp ủy, điều hành của chính quyền các địa phương. Theo đó, các cấp ủy ở địa phương phải được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là hạt nhân lãnh đạo, mọi chủ trương, kế hoạch về xây dựng thế trận an ninh nhân dân phải được cấp ủy địa phương bàn bạc và có nghị quyết lãnh đạo cụ thể. Cùng với xây dựng cấp ủy, các địa phương cần tập trung xây dựng chính quyền các cấp trong sạch, có năng lực tổ chức điều hành, trách nhiệm cao, thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, là chỗ dựa tin cậy để ngư dân yên tâm làm ăn trên biển. Đồng thời, kiên quyết chống nạn quan liêu, tham nhũng ở các cấp; phát động phong trào toàn dân tham gia xây dựng bộ máy chính quyền địa phương trong sạch; thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Đây là những điều kiện để thế trận an ninh nhân dân trên biển phát huy vai trò trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Bốn là, xây dựng, củng cố toàn diện nền an ninh nhân dân, cốt lõi là xây dựng “thế trận lòng dân”.

Nền an ninh nhân dân là sức mạnh tổng hợp về tinh thần và vật chất, truyền thống dựng nước, giữ nước và sức mạnh khối đại đoàn kết của toàn dân tộc được huy động vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia. Sức mạnh của thế trận an ninh khởi nguồn từ sức mạnh của nền an ninh nhân dân. Muốn có thế trận an ninh vững chắc, trước hết phải tạo dựng được nền an ninh nhân dân vững mạnh. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chỉ có thể giành thắng lợi khi biết dựa vào nhân dân, khơi nguồn sức mạnh, sức sáng tạo của nhân dân. Đó chính là nền tảng để xây dựng nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân. Do vậy, xây dựng, củng cố thế trận an ninh nhân dân phải là sự nghiệp của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước, trong đó lực lượng công an nhân dân giữ vai trò tham mưu, nòng cốt, gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân và phát triển kinh tế, xã hội bền vững.

Năm là, đổi mới sâu sắc, toàn diện phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực tiễn của thế trận an ninh nhân dân trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Vận động nhân dân là một trong những biện pháp chiến lược, cơ bản. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc là một trong những phong trào cách mạng của Đảng, phải bám sát và phục vụ có hiệu quả sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Bài học sâu sắc rút ra từ thực tiễn cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội thời gian qua đã khẳng định: Đảng lãnh đạo là then chốt, công an nhân dân là lực lượng nòng cốt, sức mạnh toàn dân là yếu tố quyết định thành công.

Quần chúng nhân dân là lực lượng cách mạng đông đảo, có vai trò to lớn, quyết định trong xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân. Để có thế trận an ninh nhân dân vững chắc, cần phải tổ chức, thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Thông qua phong trào, từng bước nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ an ninh quốc gia nói chung và chủ quyền biển, đảo nói riêng. Muốn vậy, cần có nhiều hình thức sáng tạo để hình thành, duy trì và nâng cao chất lượng phong trào, đặc biệt ở các vùng biển, đảo; hướng phong trào vào việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự, đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo trên địa bàn, ở từng địa phương, cơ sở, như phong trào “toàn dân hướng về biển, đảo quê hương”, phong trào “Ủng hộ ngư dân bám biển quê hương”...

tang cuong bien dao 3
Ngày hội Biển Đông. Ảnh: Tư liệu

Sáu là, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang trong xây dựng thế trận an ninh nhân dân trên biển.

Xây dựng thế trận an ninh nhân dân là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang là nòng cốt. Bởi vậy, ở các tỉnh (thành phố) ven biển, lực lượng vũ trang địa phương cần làm tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương về công tác quốc phòng, quân sự địa phương; bồi dưỡng, nâng cao kiến thức quốc phòng, an ninh cho ngư dân; chủ động phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể ở địa phương thống nhất kế hoạch thực hiện trong việc xây dựng thế trận an ninh nhân dân trên biển. Đồng thời, làm tốt công tác dân vận, tham gia xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh ở các địa phương, củng cố mối quan hệ máu thịt quân - dân; tham gia có hiệu quả các chương trình, dự án kết hợp kinh tế với quốc phòng; hướng dẫn, giúp đỡ đồng bào áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; tham gia xây dựng môi trường văn hóa, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, bài trừ các tệ nạn xã hội, chăm lo sức khỏe cho nhân dân. Đặc biệt, các lực lượng chuyên trách trên biển, như hải quân, cảnh sát biển cần được đầu tư xây dựng đủ mạnh, được trang bị phương tiện hiện đại, bảo đảm vai trò là lực lượng nòng cốt để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc, trực tiếp tham gia tuyên truyền, vận động bà con ngư dân phát triển kinh tế biển, là chỗ dựa vững chắc, bảo đảm tính mạng và tài sản của ngư dân.

Bảy là, kết hợp thường xuyên, chặt chẽ thế trận an ninh nhân dân với thế trận quốc phòng toàn dân, tạo ra thế trận tổng hợp về quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa IX nhấn mạnh: “Củng cố và hoàn thiện nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn tỉnh, thành phố, đặc biệt là trên các địa bàn chiến lược; xây dựng các khu vực phòng thủ vững chắc”2. Đại hội X của Đảng khẳng định: “Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân”3. Đến Đại hội XI, Đảng ta chỉ rõ: “Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc”4. Đại hội XII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc”5. Quan điểm trên cho thấy sự nhất quán, thống nhất của Đảng trong chỉ đạo xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân.

Bảo vệ chủ quyền biển, đảo phải bảo đảm sự thống nhất và kết hợp hài hòa, chặt chẽ giữa thế trận an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân và các hoạt động đối ngoại, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế. Sự kết hợp đó phải bảo đảm huy động có hiệu quả các lực lượng vật chất và tinh thần, cả con người và trang bị nhằm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, đồng thời phù hợp tính chất đặc thù của từng lĩnh vực hoạt động. Sự kết hợp đó không chỉ được thực hiện ở tầm vĩ mô mà còn được triển khai cụ thể và hiệu quả ở từng địa phương, cơ sở; phát huy tốt vai trò nòng cốt của quân đội và công an trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Tám là, chủ động mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, góp phan bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, mở rộng thế trận an ninh nhân dân ra địa bàn ngoài nước.

Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định rõ phương hướng, nhiệm vụ chiến lược của công tác đối ngoại trong tình hình mới là: “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển... Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”6.

Để thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, việc xây dựng thế trận an ninh nhân dân không thể chỉ bó hẹp ở phạm vi trong nước, mà cần mở rộng hợp tác quốc tế, tạo được sự đồng lòng, nhất trí giữa người Việt Nam ở nước ngoài với các chủ trương, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước. Bên cạnh đó, thông qua xây dựng thế trận an ninh nhân dân tuyên truyền để bạn bè trên thế giới hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam, tạo nên sức mạnh tổng hợp, ngăn chặn những hành vi vi phạm chủ quyền biển, đảo quốc gia./.

TS. Phạm Ngọc Anh

Học viện An ninh nhân dân

Theo Tạp chí Cộng sản điện tử

Tâm Trang (st)

--------------------

1. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 148
2. Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 56
3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 110
4. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 234
5, 6. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 148, 153

Bài viết khác:

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

  1. Ban Tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 17 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455128
  2. Ban Đón tiếp, Văn phòng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 1 Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455168 - 024 37345484
  3. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội.
    Điện thoại: 069 591930024 38455168 - 024 37345484

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập (Phiên truy cập)

48473142
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
8570
116840
348711
48473142