dang voi dan
Bác Hồ thăm bà con nông dân xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (1954). 
Ảnh: TTXVN.

Quan hệ giữa Đảng với dân là quan hệ xã hội đặc biệt, được hình thành và phát triển trong điều kiện của cách mạng vô sản. Vì vậy, mối quan hệ giữa Đảng với dân là một phạm trù lịch sử, trong đó Đảng là thực thể chính trị, nhân dân là thực thể xã hội không đồng nhất. Giữa hai thực thể đó vừa có tính thống nhất vừa có sự khác biệt. Đảng và nhân dân có cơ sở sự thống nhất về lợi ích cơ bản giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc. Đảng gắn với nhân dân thì Đảng mới có sức mạnh, mới giữ được quyền lãnh đạo và mới làm nên những kỳ tích trong cách mạng. Nhân dân gắn với Đảng thì mới nhân lên sức mạnh tiềm năng của mình, mới có điều kiện để được giải phóng, mới có ấm no, hạnh phúc thực sự. Sự khác biệt là ở chỗ: Đảng đóng vai trò là chủ thể lãnh đạo, nhân dân là đối tượng bị lãnh đạo; Đảng gồm những phần tử ưu tú nhất của giai cấp và dân tộc; nhân dân bao gồm giai cấp, nhiều tầng lớp khác nhau. Tính thống nhất và sự khác biệt ấy hợp lại trong một chỉnh thể như con thuyền cách mạng mà người lái là Đảng, người chèo là nhân dân. Vì vậy Đảng phải tìm kiếm, lựa chọn phương pháp, giải pháp ứng xử thích hợp trong mối quan hệ Đảng và nhân dân để đạt được mục tiêu cách mạng đề ra. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân thể hiện tập trung trên những nội dung cơ bản sau:

Một là, tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa đảng với nhân dân là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh to lớn của cách mạng.

Liên hệ, gắn bó mật thiết với nhân dân là nguồn gốc chủ yếu tạo nên sức mạnh của Đảng ta, là một trong những điều kiện và nguyên nhân làm cho Đảng ta giữ vững được quyền lãnh đạo và giành được thắng lợi trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Vì vậy, tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân là một yêu cầu khách quan, cũng là một biện pháp quan trọng nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng.

Theo Hồ Chí Minh, Đảng có mạnh mới đủ uy tín, khả năng để thu hút, tập hợp nhân dân làm cách mạng, sức mạnh của Đảng do nơi dân mà có. Sức mạnh của Đảng thể hiện ở quyền lực chính trị của Đảng, quyền lực đó chính là sự ủy thác của nhân dân cho Đảng. Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Bác Hồ đã chỉ rõ: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người, thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”1. Đảng viên chỉ là thiểu số trong nhân dân, nếu không có người ngoài Đảng ủng hộ, giúp đỡ thì Đảng không làm gì được. Trong mặt trận đoàn kết toàn dân, Đảng cũng chỉ là một bộ phận, nhưng đó là bộ phận ưu tú, trong sạch và kiên định cách mạng nhất. Đảng phải thường xuyên chăm lo củng cố, hoàn thiện mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, nếu không Đảng sẽ mất sinh khí, mất sức mạnh.

Xây dựng và củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là một quá trình liên tục, bền bỉ và công phu. Đảng phải thường xuyên, chủ động liên hệ với quần chúng. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc nâng cao dân trí cho nhân dân, xem đó như là điều kiện để nâng cao trí tuệ của Đảng và củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Trong giai đoạn hiện nay, trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, sự tiếp cận tri thức của các tầng lớp nhân dân có sự đa dạng hơn, góp phần củng cố niềm tin với Đảng, Nhà nước, từ đó tạo nên nguồn nội sinh mạnh mẽ để nhân dân nỗ lực học tập, công tác, lao động sản xuất, xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp. Muốn dân mạnh thì phải bồi dưỡng sức dân, nâng đỡ dân, giác ngộ nhân dân và tổ chức nhân dân vào hành động cách mạng.

Hai là, Đảng dựa vào dân, dân tin Đảng là một trong những nhân tố bảo đảm sự đúng đắn của đường lối và tạo nên cao trào cách mạng.

Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định trong hoàn thành các nhiệm vụ đề ra. Vì vậy, phải luôn đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, từ đó làm nền tảng vững chắc nhằm triển khai thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đề ra.

Hồ Chí Minh đã khẳng định: Cách mạng thành công là do quần chúng nghe theo Đảng, mà quần chúng nghe theo sự lãnh đạo của Đảng là vì Đảng dựa vào quần chúng. Vì vậy Đảng phải dựa vào dân, nếu xa rời quần chúng nhân dân thì sẽ thất bại. Nếu Đảng chỉ thuộc về một số người giàu có, sống cách biệt với dân, không đồng cam cộng khổ với dân, không thấm nhuần và thực hiện đúng lời dạy của Bác Hồ thì Đảng đã vô hình trung “đứng trên, đứng ngoài” lợi ích của nhân dân và nguy cơ Đảng thoái hóa, biến chất rồi sụp đổ là khó tránh khỏi. Dựa vào dân, trước hết là công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác là cái gốc của cách mạng, là nền của chính sách đại đoàn kết dân tộc. Muốn dựa vững chắc vào dân, Đảng phải làm cho dân tin ở chính hiệu quả của đường lối, chính sách của Đảng, ở phẩm chất đạo đức, tác phong quần chúng của cán bộ, đảng viên. Trong Đảng phải thực hành phê bình và tự phê bình thật thà, ngay thẳng và có quyết tâm sửa chữa khuyết điểm của mình. Trong điều kiện cầm quyền, Đảng phải hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, để nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua hệ thống chính trị mà trước hết là qua Nhà nước, bằng Nhà nước. Hiện nay, Đảng phải làm sao để cho người dân giảm bớt và tiến tới không còn phải băn khoăn, lo lắng nhiều vì những bất cập, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng nói chung, và những biểu hiện thoái hóa, biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nói riêng.

Ba là, nêu cao vai trò lãnh đạo của Đảng để phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người căn dặn “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”2. Đây là một luận điểm mới mẻ, sáng tạo của Hồ Chí Minh, một đóng góp quan trọng vào lý luận xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Luận điểm này đã chỉ rõ cái bản chất nhất trong mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với dân.

Đảng lãnh đạo là để phụng sự dân, công bộc dân, đầy tớ trung thành của nhân dân, vì dân là là chủ. Do vậy, việc to, việc nhỏ Đảng đều vì mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân. Nhân dân phải giúp đỡ Đảng, tuân thủ kỷ luật và chấp hành nghiêm chính sách của Đảng để Đảng làm tròn bổn phận mà nhân dân giao phó. Muốn làm đầy tớ dân, đảng viên, cán bộ phải có phẩm chất đạo đức, có phương pháp cách mạng đúng đắn. Lãnh đạo và đầy tớ là sự thống nhất trong phẩm chất, năng lực và trách nhiệm của người đảng viên, cán bộ trước nhân dân. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh coi dân là người chủ của đất nước, của xã hội và coi những người lãnh đạo, những người cầm quyền là đầy tớ của nhân dân là tư tưởng hoàn toàn mới mẻ, không hề thấy trong tư tưởng nho giáo và trong tư tưởng truyền thống của dân tộc ta. Tư tưởng đó thể hiện một chủ nghĩa nhân văn cao đẹp tuyệt vời ở Hồ Chí Minh.

Muốn phục vụ dân phải không ngừng học tập rèn luyện toàn diện. Cách mạng cũng là một nghề, do vậy phải học để làm việc, làm người, để làm cán bộ cách mạng chứ không phải làm “quan cách mạng”. “Có biết làm học trò dân mới làm được thầy học dân”3.

Vì vậy, để phát huy dân chủ, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, cần phải tạo ra những điều kiện nhất định, đó là: Nâng cao dân trí, làm cho người dân có kiến thức và trình độ nhất định về văn hóa, giáo dục, nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật, pháp luật, văn học nghệ thuật, lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Xem trọng những ý kiến phê bình và kiến nghị của dân chúng bằng cách đến với dân, tiếp dân. Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương cụ thể và mẫu mực về vấn đề này. Ngay từ ngày 03-9-1945 Người đã nêu ra và thực hiện nghiêm túc qui định về việc Chủ tịch chính phủ tiếp chuyện đại biểu các đoàn thể. Điều đó đã được dân chúng hoan nghênh và cảm phục.

Bốn là, đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống của nhân dân, phải lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân.

Đường lối là cơ sở chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng, là ngọn cờ tập hợp, đoàn kết nhân dân xung quanh Đảng. Đường lối liên quan mật thiết tới sinh mệnh của Đảng và nhân dân. Do vậy đường lối phải khoa học, đúng dắn, đáp ứng được nguyện vọng lợi ích chính đáng của nhân dân, mặt khác phải được tổ chức thực hiện tốt. Đảng viên chính là dây chuyền của bộ máy để đưa đường lối vào cuộc sống nhân dân và thu nhận, phản ánh ý kiến, nguyện vọng của nhân dân với Đảng. Do vậy cán bộ, đảng viên phải đi sát quần chúng, hòa mình vào quần chúng, nói phải đi đôi với làm, phải luôn cầu thị, phải sáng tạo nhiều phương thức, cách thức hành động đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình thực hiện, triển khai đường lối, phải bảo đảm thông tin hai chiều trên xuống và dưới lên, có vậy dân mới tin, mới theo.

Nguyên tắc cao nhất trong chỉ đạo thực tiễn, trong triển khai đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng là phải luôn do nơi quần chúng mà kiểm tra, kiểm soát. Phải hết sức chăm lo đời sống nhân dân. Phải chú trọng công tác tổ chức, lựa chọn bố trí cán bộ và công tác kiểm tra. Nếu ba việc ấy sơ sài, không đồng bộ thì đường lối hay mấy cũng khó thực hiện.

Quá trình triển khai thực hiện đường lối của Đảng, phải hết sức tôn trọng, lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân. Vì đó là cách tốt nhất để Đảng gần dân, hiểu dân để củng cố Đảng. Phải hết sức quan tâm tới tính hiệu quả đường lối, chính sách. Người dạy “Dân đủ ăn, đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện”4.

Hồ Chí Minh có một quan niệm đúng đắn và sâu sắc về việc nhân dân mạnh dạn phê bình cán bộ đảng viên, phê bình Đảng và Chính phủ. Người khẳng định: “Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng mà nhờ đó mà Đảng thắng lợi”5. Đòi hỏi người đảng viên phải lắng nghe ý kiến của quần chúng, biến những ý kiến tích cực, tiến bộ thành chủ trương, quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo quần chúng, nhưng không phải dân chúng nói gì cũng cứ nhắm mắt làm theo. Bởi, mỗi việc làm của người đảng viên không phải để “mỵ dân”, mà phải hướng đến và đạt được mục tiêu đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết.

Năm là, trong điều kiện đảng cầm quyền, cán bộ, đảng viên phải thật sự dân chủ với dân, phải kiên quyết cùng nhân dân chống tệ nạn tham ô, lãng phí, quan liêu và các tệ nạn xã hội khác trong bộ máy Đảng và Nhà nước.

Đảng cầm quyền là điều kiện tốt nhất để đảng liên hệ mật thiết với nhân dân. Nhưng khi có chính quyền Đảng đứng trước hai nguy cơ lớn: đó là nguy cơ sai lầm về đường lối và nguy cơ đảng viên thoái hóa biến chất, xa rời nhân dân. Hồ Chí Minh coi đó là “Giặc nội xâm” làm ruỗng nát bộ máy của Đảng và Nhà nước. Do vậy Người thường xuyên quan tâm và có thái độ kiên quyết trong việc rèn luyện cán bộ, đảng viên.

Dân chủ hóa phải gắn liền với pháp chế hóa. Pháp luật phải kiên quyết trừng trị những kẻ thù của dân, những kẻ hại dân, bảo đảm cho những người dân bình thường thực hiện quyền làm chủ một cách bình thường, dám tố cáo những cơ quan và những người có chức có quyền tham nhũng, hối lộ và làm những điều sai trái khác mà vẫn được bảo vệ, không bị trả thù, trù dập. Đồng thời dân chủ, cũng phải đi liền với kỷ cương, nằm trong khuôn khổ pháp luật, không để dẫn tới một sự lệch lạc quá trớn với những mối nguy hại không lường về chính trị.

Có cơ chế và quy trình thực hiện khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Nội dung chủ yếu của khẩu hiệu này là nhằm để cho dân biết, bàn, kiểm tra về việc đề ra và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước; về phẩm chất đạo đức, chất lượng, hiệu quả công việc của cán bộ, đảng viên; về sự hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước và đoàn thể nhân dân; về việc đảm bảo thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ công dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là bí quyết để tạo nên sức mạnh của Đảng và thành công của cách mạng. Đó là tư duy sắc sảo về nhân dân và sự nhất quán trong hành động vì nhân dân. Người đến với Đảng cũng vì nhân dân, Người đã đem hết trí lực và nhiệt huyết của mình dồn vào việc xây dựng một Đảng cách mạng, chân chính luôn biết tôn trọng, yêu quý nhân dân, gắn bó với nhân dân. Vì vậy, nghiên cứu, quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo quan điểm của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là một điều kiện bảo đảm thắng lợi cho quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới ở thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.

Đại úy, ThS. Hoàng Đình Tú

Giảng viên Khoa Giáo dục chính trị,
Trường Trung cấp kỹ thuật Tăng Thiết giáp, Binh chủng Tăng Thiết giáp

--------------

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 2, Nxb CTQG, Hà Nội 2004, tr.270.
2. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội 2004, tr.510.
3. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội 2004, tr.88.
4. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội 2004, tr.572.
5. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội 2004, tr.286.

Bài viết khác:

THÔNG BÁO TỔ CHỨC LỄ VIẾNG

 THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. 

Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

  1. Ban Tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 17 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455128
  2. Ban Đón tiếp, Văn phòng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 1 Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455168 - 024 37345484
  3. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội.
    Điện thoại: 069 591930024 38455168 - 024 37345484

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập (Phiên truy cập)

56774273
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
19583
265895
345711
56774273